Quy định đào tạo theo tín chỉ

BỘ TÀI CHÍNH

TRƯỜNG ĐH TÀI CHÍNH - MARKETING

Số:       1194       /QĐ/ĐHTCM-QLĐT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Tp. Hồ Chí Minh, ngày  19  tháng 07 năm 2012

 

QUYẾT ĐỊNH

Về việc ban hành Quy định tổ chức đào tạo Đại học, Cao đẳng hệ chính quy

theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Tài chính - Marketing

HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING

Căn cứ Quyết định số 29/2004/TTg ngày 05/03/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Trường Đại học BC Marketing trực thuộc Bộ Tài chính;

Căn cứ Quyết định số 395/QĐ - TTg ngày 25/03/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc đổi tên Trường Đại học BC Marketing thành Trường Đại học Tài chính - Marketing;

Căn cứ Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/08/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành “Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”;

Theo đề nghị của Thường trực Hội đồng Khoa học – Đào tạo nhà trường và Trưởng Phòng Quản lý đào tạo,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này “Quy định tổ chức đào tạo Đại học, Cao đẳng hệ chính quy theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Tài chính – Marketing”. Quy định này áp dụng cho các khóa đào tạo trình độ Đại học, Cao đẳng hệ chính quy thực hiện theo phương thức đào tạo học chế tín chỉ.

Điều 2. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Điều 3. Các Ông/Bà Trưởng khoa đào tạo, Trưởng các đơn vị có liên quan và toàn thể giảng viên, sinh viên hệ chính quy học theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Tài chính – Marketing chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.

Nơi nhận:

- Ban Giám hiệu (để biết);

- Như điều 3;

- Thông báo, website;

- Lưu VT, P.QLĐT.

HIỆU TRƯỞNG

(Đã ký)

PGS.TS. Hoàng Trần Hậu

BỘ TÀI CHÍNH

TRƯỜNG ĐH TÀI CHÍNH - MARKETING

Số:        1195        /QĐ/ĐHTCM-QLĐT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 19  tháng 07 năm 2012

QUYẾT ĐỊNH

Về việc triển khai phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ

tại trường Đại học Tài chính - Marketing

HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING

Căn cứ Quyết định số 29/2004/TTg ngày 05/03/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Trường Đại học BC Marketing trực thuộc Bộ Tài chính;

Căn cứ Quyết định số 395/QĐ - TTg ngày 25/03/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc đổi tên Trường Đại học BC Marketing thành Trường Đại học Tài chính - Marketing;

Căn cứ Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/08/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành “Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”;

Theo đề nghị của Trưởng Phòng Quản lý đào tạo,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ đối với các ngành đào tạo trình độ đại học hệ chính quy từ khóa tuyển sinh năm 2012 về sau.

Điều 2. Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/08/2012.

Điều 3. Các Ông/Bà Trưởng khoa đào tạo, Trưởng các đơn vị có liên quan và toàn thể giảng viên, sinh viên hệ chính quy học theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Tài chính – Marketing chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.

Nơi nhận:

- Ban Giám hiệu (để biết);

- Như điều 3;

- Thông báo, website;

- Lưu VT, P.QLĐT.

HIỆU TRƯỞNG

(Đã ký)

PGS.TS. Hoàng Trần Hậu

BỘ TÀI CHÍNH

TRƯỜNG ĐH TÀI CHÍNH - MARKETING

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

QUY ĐỊNH

Tổ chức đào tạo Đại học, Cao đẳng hệ chính quy theo học chế tín chỉ

tại Trường Đại học Tài chính - Marketing

(Ban hành kèm theo Quyết định số 1194/QĐ-ĐHTCM ngày 19 tháng 7 năm 2012

của Hiệu trưởng Trường Đại học Tài chính - Marketing)

CHƯƠNG I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Quy định này được xây dựng dựa trên Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ ban hành tại Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/08/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

2. Quy định này quy định đào tạo đại học, cao đẳng hệ chính quy theo học chế tín chỉ tại Trường Đại học Tài chính – Marketing (sau đây gọi tắt là trường), bao gồm: tổ chức đào tạo; kiểm tra và thi học phần; xét và công nhận tốt nghiệp.

3. Quy định này áp dụng đối với sinh viên các khoá đào tạo hệ chính quy ở trình độ đại học, cao đẳng tại trường thực hiện theo hình thức tích lũy tín chỉ.

Điều 2. Chương trình giáo dục đại học

1. Chương trình giáo dục đại học (sau đây gọi tắt là chương trình) thể hiện mục tiêu giáo dục đại học, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi học phần, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học.

2. Chương trình được trường xây dựng trên cơ sở chương trình khung do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, và được Hiệu trưởng phê duyệt thực hiện.

Mỗi chương trình gắn với một ngành (kiểu đơn ngành) hoặc với một vài ngành (kiểu song ngành; kiểu ngành chính - ngành phụ; kiểu 2 văn bằng).

3. Chương trình được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp.

Tổng số tín chỉ (không tính học phần Giáo dục thể chất và Giáo dục quốc phòng – An ninh) quy định cho chương trình giáo dục đại học từ 120 đến 140 tín chỉ, cho chương trình giáo dục cao đẳng từ 90 đến 110 tín chỉ.

Điều 3. Học phần và tín chỉ

1. Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh viên tích lũy trong quá trình học tập. Học phần thực hành có khối lượng từ 02 đến 03 tín chỉ, học phần lý thuyết có khối lượng từ 02 đến 05 tín chỉ, học phần kết hợp lý thuyết với thực hành có khối lượng từ 02 đến 04 tín chỉ, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố hợp lý trong một học kỳ. Kiến thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theo năm học thiết kế và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học. Từng học phần có số tín chỉ xác định và được ký hiệu bằng một mã số riêng do trường quy định, có đề cương chi tiết học phần.

Các học phần trong chương trình giáo dục được sắp xếp theo trình tự nhất định và được bố trí vào từng học kỳ của khóa đào tạo. Đây là trình tự mà nhà trường khuyến cáo sinh viên nên tuân theo để thuận lợi nhất cho việc tiếp thu kiến thức.

2. Các loại học phần:

Theo tính chất của học phần:

- Học phần lý thuyết: là học phần giảng viên và sinh viên làm việc trên lớp, bao gồm khối lượng giảng viên giảng lý thuyết, sinh viên thuyết trình, sửa bài tập, thảo luận, làm việc theo nhóm có giảng viên hướng dẫn ...

- Học phần thực hành: là học phần giảng viên hướng dẫn sinh viên làm thực hành trên máy tính, thực hành mô phỏng, thí nghiệm, khảo sát thực tế, kiến tập, thực tập,  ...

- Học phần kết hợp lý thuyết với thực hành: là học phần có một phần giảng lý thuyết hoặc thuyết giảng của giảng viên; một phần sinh viên làm thực hành, thực tập, khảo sát thực tế ...

Theo yêu cầu tích lũy kiến thức:

- Học phần bắt buộc: là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy.

- Học phần tự chọn bắt buộc: là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức bổ trợ cần thiết của một chương trình giáo dục để tích lũy đủ số tín chỉ quy định cho chương trình đó và sinh viên được quyền tự chọn trong danh mục giới hạn các học phần theo hướng dẫn của khoa đào tạo nhằm đa dạng hóa hướng chuyên môn sâu.

- Học phần tự chọn tùy ý: là học phần mà sinh viên đăng ký học theo nguyện vọng để tích lũy kiến thức, được ghi kết quả vào bảng điểm nhưng không được tính vào kết quả tích lũy của học kỳ và khóa học, không tính để xét học bổng, xét tốt nghiệp. Sinh viên có thể chọn học phần này ở trong chương trình giáo dục của ngành đã đăng ký học hoặc của ngành khác trong trường.

- Học phần tiên quyết: Học phần A là học phần tiên quyết của học phần B, khi điều kiện bắt buộc để đăng ký học học phần B là sinh viên đã đăng ký học và hoàn tất đạt học phần A.

- Học phần học trước: Học phần A là học phần học trước của học phần B, khi điều kiện bắt buộc để học học phần B là sinh viên đã đăng ký và được xác nhận học xong học phần A (có thể chưa đạt). Sinh viên được phép học học phần B tiếp sau học phần A.

- Học phần song hành: Học phần B là học phần song hành đối với học phần A, khi điều kiện bắt buộc để đăng ký học học phần B là sinh viên đã đăng ký học học phần A. Sinh viên được phép học học phần B đồng thời hoặc có thể sau học phần A.

- Học phần tích lũy: là học phần đã được đánh giá theo thang điểm chữ A, A-, B+, B, C+, C, D+, D. Tổng số tín chỉ của các học phần này tính từ lúc bắt đầu khoá học đến thời điểm xét, gọi là khối lượng kiến thức tích lũy.

- Học phần tương đương và học phần thay thế:

· Học phần tương đương: học phần tương đương đối với học phần A là học phần có nội dung và thời lượng đáp ứng được yêu cầu của học phần A, cụ thể là có nội dung giống nhau từ 80% trở lên và có số tín chỉ tương đương hoặc lớn hơn,

Hoặc, học phần tương đương được hiểu là một hay một nhóm học phần thuộc chương trình đào tạo một khóa – ngành, chuyên ngành khác đang tổ chức đào tạo tại trường được phép tích lũy để thay cho một học phần hay một nhóm học phần trong chương trình đào tạo của ngành, chuyên ngành đào tạo.

· Học phần thay thế được sử dụng khi một học phần có trong chương trình giáo dục nhưng nay không còn tổ chức giảng dạy nữa và được thay thế bằng một học phần khác đang còn tổ chức giảng dạy.

Các học phần tương đương và học phần thay thế do khoa chuyên môn đề xuất và Hiệu trưởng xem xét quyết định và là các phần bổ sung cho chương trình giáo dục trong quá trình thực hiện. Học phần tương đương hoặc học phần thay thế có thể được áp dụng cho các khóa, các ngành hoặc chỉ được áp dụng hạn chế cho một hoặc một số khóa, ngành được chỉ định.

3. Tín chỉ là đơn vị quy chuẩn dùng để lượng hoá khối lượng kiến thức và khối lượng học tập của sinh viên. Tiến độ học tập của sinh viên được đo lường bằng số lượng tín chỉ đã tích lũy được.

Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 - 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 - 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc khóa luận tốt nghiệp.

Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân.

Hiệu trưởng sẽ quy định cụ thể số tiết, số giờ đối với từng học phần cho phù hợp với đặc điểm của trường và được thể hiện trong chương trình giáo dục, đề cương chi tiết học phần.

4. Đối với những chương trình, khối lượng của từng học phần đã được tính theo đơn vị học trình, thì 1,5 đơn vị học trình được quy đổi thành 1 tín chỉ.

5. Một tiết học được tính bằng 50 phút.

6. Hình thức tổ chức giờ tín chỉ:

Hình thức tổ chức giờ tín chỉ là cách thức tổ chức thực hiện các hoạt động của giảng viên và sinh viên ứng với cách tổ chức chương trình học phần/bài học theo quy định của đề cương chi tiết học phần, trong đó coi trọng năng lực tự học, tự nghiên cứu, thực tập, thực hành, hoạt động thực tế nhằm tích lũy đủ khối lượng kiến thức theo yêu cầu của học phần và phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ.

Có các hình thức tổ chức giờ tín chỉ như sau:

- Lên lớp: Sinh viên học tập trên lớp thông qua bài giảng, hư­ớng dẫn của giảng viên tại lớp.

- Thực hành: Sinh viên học tập thông qua thực hành, thực tập, làm bài tập, đọc và nghiên cứu tài liệu,... dư­ới sự trợ giúp trực tiếp của giảng viên.

- Tự học: Sinh viên tự học tập, nghiên cứu theo hình thức cá nhân hoặc tổ/nhóm ở nhà, ở th­ư viện, trong phòng thí nghiệm,... theo kế hoạch, nhiệm vụ, nội dung do giảng viên giao, được kiểm tra - đánh giá và tích luỹ vào kết quả học tập cuối cùng của môn học.

Trong đó giờ học lý thuyết, giờ thực hành được bố trí vào thời khóa biểu.

Điều 4. Thời gian hoạt động giảng dạy

Thời gian hoạt động giảng dạy của trường được tính từ 07 giờ 00 đến 20 giờ 45 hằng ngày.

Buổi học


Tiết

Bắt đầu

Kết thúc

Thời gian giải lao

Sáng

1

07 giờ 00’

07 giờ 50’

Sáng

2

07 giờ 50’

08 giờ 40’

30 phút

Sáng

3

09 giờ 10’

10 giờ 00’

Sáng

4

10 giờ 00’

10 giờ 50’

Chiều

5

13 giờ 00’

13 giờ 50’

Chiều

6

13 giờ 50’

14 giờ 40’

30 phút

Chiều

7

15 giờ 10’

16 giờ 00’

Chiều

8

16 giờ 00’

16 giờ 50’

Tối

9

18 giờ 00’

18 giờ 50’

15 phút

Tối

10

19 giờ 05’

19 giờ 55’

Tối

11

19 giờ 55’

20 giờ 45’

Điều 5. Đánh giá kết quả học tập

Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá sau từng học kỳ qua các tiêu chí sau:

1. Số tín chỉ của các học phần mà sinh viên đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ (gọi tắt là khối lượng học tập đăng ký).

2. Điểm trung bình chung học kỳ là điểm trung bình có trọng số của các học phần mà sinh viên đăng ký học trong học kỳ đó, với trọng số là số tín chỉ tương ứng của từng học phần.

3. Khối lượng kiến thức tích lũy là khối lượng tính bằng tổng số tín chỉ của những học phần đã được đánh giá theo thang điểm chữ A, A-, B+, B, C+, C, D+, D tính từ đầu khóa học.

4. Điểm trung bình chung tích lũy là điểm trung bình của các học phần và được đánh giá bằng các điểm chữ A, A-, B+, B, C+, C, D+, D mà sinh viên đã tích lũy được, tính từ đầu khóa học cho tới thời điểm được xem xét vào lúc kết thúc mỗi học kỳ.

CHƯƠNG II

TỔ CHỨC ĐÀO TẠO

Điều 6. Thời gian và kế hoạch đào tạo

1. Khoá học và thời gian hoàn thành chương trình

Khoá học là thời gian thiết kế chuẩn để sinh viên hoàn thành một chương trình cụ thể. Tuỳ thuộc vào từng chương trình, khoá học được quy định như sau:

- Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện ba năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp tương đương;

- Đào tạo trình độ đại học được thực hiện bốn năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp tương đương.

Bậc học

Thời gian

đào tạo chuẩn

Số tín chỉ

tích luỹ

Thời gian

rút ngắn tối đa

Thời gian

kéo dài tối đa

Đại học

8 học kỳ chính

120 – 140

2 học kỳ chính

6 học kỳ chính

Cao đẳng

6 học kỳ chính

90 – 110

2 học kỳ chính

6 học kỳ chính

Các học kỳ được phép tạm dừng học và các học kỳ học ở trường khác trước khi chuyển về trường (nếu có) đều được tính chung vào thời gian tối đa của khóa học, ngoại trừ thời gian sinh viên tình nguyện thi hành nghĩa vụ quân sự.

Các đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy không bị hạn chế về thời gian tối đa để hoàn thành chương trình.

2. Năm học và học kỳ

Một năm học có hai học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có ít nhất 15 tuần thực học và 3 tuần thi.

Ngoài hai học kỳ chính, tùy điều kiện cụ thể, trường có thể xem xét và quyết định tổ chức thêm một học kỳ phụ để sinh viên có điều kiện được học lại; học bù; học cải thiện điểm hoặc học vượt. Sinh viên đăng ký tham gia học kỳ phụ trên cơ sở tự nguyện, không bắt buộc. Mỗi học kỳ phụ có ít nhất 5 tuần thực học và 1 tuần thi.

Điều 7. Đăng ký nhập học

1. Khi vào học hệ chính quy theo học chế tín chỉ tại trường, sinh viên phải hoàn thành các thủ tục đăng ký nhập học trong thời hạn quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành. Tất cả giấy tờ khi sinh viên nhập học được xếp vào túi hồ sơ của từng cá nhân do Phòng Công tác sinh viên của trường quản lý.

2. Sau khi sinh viên đã hoàn thành đầy đủ các thủ tục nhập học, nộp học phí và các khoản thu khác (nếu có) theo quy định của nhà trường mới được nhà trường ký quyết định công nhận là sinh viên chính thức, được biên chế vào lớp-khóa học, được cấp thẻ sinh viên và cấp phiếu nhận giáo viên cố vấn học tập.

3. Sinh viên nhập học được trường cung cấp đầy đủ các thông tin về mục tiêu, nội dung và kế hoạch học tập của các chương trình, các quy định có liên quan tới tổ chức đào tạo, rèn luyện và sinh hoạt, nghĩa vụ và quyền lợi của sinh viên.

Điều 8. Sắp xếp sinh viên vào học và chuyển đổi các chương trình hoặc ngành đào tạo

1. Trường xác định điểm trúng tuyển vào trường theo khối thi; ngành và chuyên ngành đào tạo mà thí sinh đã đăng ký trong kỳ thi tuyển sinh hằng năm. Sinh viên đạt điểm quy định sẽ được trường sắp xếp vào các các ngành, chuyên ngành đào tạo đã đăng ký.

2. Trong quá trình học tập, trừ năm học thứ nhất và năm học cuối khóa, nếu sinh viên có nguyện vọng xin chuyển sang ngành, chuyên ngành đào tạo khác thì tại thời điểm xem xét phải hội đủ điều kiện:

a) Điểm trung bình chung tích lũy đạt từ 2,00 điểm trở lên.

b) Điểm thi tuyển sinh của sinh viên phải bằng hoặc cao hơn điểm chuẩn trúng tuyển của chương trình chuyển đến cùng nguyện vọng (đợt xét tuyển) trong cùng năm nhập học.

c) Được Hiệu trưởng đồng ý.

Xếp hạng năm đào tạo tại chương trình chuyển đến cho các trường hợp giải quyết được thực hiện theo điều 14. Thời gian tối đa hoàn thành chương trình chuyển đến được tính theo điều 6.

Sinh viên phải làm đơn, có xác nhận của khoa đào tạo, sau đó chuyển cho Phòng Quản lý đào tạo vào đầu mỗi học kỳ để trình Hiệu trưởng xem xét, quyết định.

Điều 9. Tổ chức lớp học

Các sinh viên khi nhập học sẽ được tổ chức thành lớp-khóa học và sau đó là lớp-học phần.

1. Lớp-học phần và điều kiện mở lớp

Lớp-học phần là lớp của các sinh viên cùng đăng ký học một học phần, có cùng thời khóa biểu của học phần trong cùng một học kỳ. Mỗi lớp-học phần được gán một mã số riêng, có ban cán sự lớp được đề cử và bầu cử theo quy định. Số lượng sinh viên của một lớp-học phần được giới hạn bởi sức chứa của phòng học / phòng thực hành hoặc được sắp xếp theo các yêu cầu riêng đặc thù của học phần.

a. Học phần lý thuyết hoặc học phần kết hợp lý thuyết với thực hành:

Số lượng tối thiểu để xem xét mở lớp-học phần trong học kỳ là:

- 50 sinh viên đăng ký: áp dụng cho đa số các học phần.

- 70 sinh viên đăng ký: áp dụng cho các học phần cơ bản, cơ sở của các nhóm ngành lớn (trừ các học phần có đặc thù riêng như Ngoại ngữ, Tin học, …)

- 30 sinh viên đăng ký: áp dụng cho học phần tin học và ngoại ngữ.

Trường hợp đặc biệt, số lượng sinh viên lớp-học phần do Hiệu trưởng quyết định trên cơ sở đặc thù chuyên môn và đề nghị của khoa chuyên môn.

Nếu không tổ chức được lớp học cho một học phần thì những sinh viên đã đăng ký học học phần đó phải đăng ký chuyển sang học những học phần khác có lớp nếu chưa đảm bảo đủ quy định về khối lượng học tập tối thiểu cho mỗi học kỳ.

b. Các học phần thực hành, thực tập; thực hành nghề nghiệp; khóa luận tốt nghiệp được mở theo khả năng sắp xếp, đảm nhận của khoa đào tạo.

2. Lớp-khóa học và giáo viên cố vấn học tập

a. Lớp-khóa học: được tổ chức cho sinh viên trúng tuyển vào học cùng một ngành trong cùng một khoá học và ổn định từ đầu đến cuối mỗi khoá học, tạo điều kiện cho sinh viên sinh hoạt đoàn thể, tham gia các phong trào thi đua, các hoạt động chính trị - xã hội, văn hóa, thể thao; đồng thời để quản lý sinh viên trong quá trình học tập, đánh giá kết quả rèn luyện của mỗi sinh viên. Lớp-khóa học có một tên riêng gắn với ngành/chuyên ngành, trình độ, khóa và bậc đào tạo, được mã hóa theo quy định của trường. Lớp-khóa học có một giáo viên cố vấn học tập do khoa đào tạo phân công, có ban cán sự lớp được đề cử và bầu cử theo quy định.

b. Giáo viên cố vấn học tập: đảm nhiệm vai trò cố vấn học tập cho sinh viên trong lớp về các vấn đề học vụ, giúp đỡ sinh viên lập kế hoạch học tập trong từng học kỳ và kế hoạch cho toàn bộ khóa đào tạo.

c. Tổ chức hoạt động của lớp-khóa học, vai trò và trách nhiệm của Giáo viên cố vấn học tập được quy định rõ trong quy chế Công tác sinh viên và qui chế công tác Giáo viên cố vấn học tập của trường.

Điều 10. Đăng ký khối lượng học tập

Trước khi bắt đầu mỗi học kỳ, tùy theo khả năng và điều kiện học tập của bản thân, căn cứ vào chương trình giáo dục và thông báo đăng ký học phần được thông báo trong sổ tay sinh viên hoặc trên website của trường, sinh viên gặp giáo viên cố vấn học tập để được tư vấn và đăng ký học các học phần dự định sẽ học trong học kỳ đó với Phòng Quản lý đào tạo. Đối với những sinh viên có học phần phải học lại, tổng số tín chỉ của học kỳ bao gồm số tín chỉ của các học phần học lại và các học phần mới.

1. Quy trình đăng ký học một học phần

Bước 1: 2 tháng trước thời điểm bắt đầu học kỳ mới, Phòng Quản lý đào tạo công bố thời khóa biểu cho từng học phần dự kiến sẽ tổ chức đào tạo trong học kỳ. Trong thời hạn quy định được thông báo trong sổ tay sinh viên hoặc trên website của trường, căn cứ vào thời khoá biểu và số học phần dự kiến này, kết hợp với chương trình đào tạo đã đăng ký học, sinh viên đăng ký học các học phần của một học kỳ mới trên “Phiếu đăng ký học phần” hoặc đăng ký trực tuyến trên website. Phiếu đăng ký học phần của sinh viên sẽ do Phòng Quản lý đào tạo của trường lưu giữ.

Bước 2: Phòng Quản lý đào tạo xử lý và công bố kết quả đăng ký học cho sinh viên kiểm tra, bổ sung hoặc thay đổi học phần, lớp-học phần nhằm hoàn chỉnh thời khóa biểu cá nhân. Việc đăng ký học thêm hoặc đăng ký đổi sang học phần khác khi không có lớp được thực hiện ngay khi có thời khóa biểu cá nhân và kết thúc trong 2 tuần đầu của học kỳ chính hoặc trong tuần đầu của học kỳ phụ.

Bước 3: sinh viên in “Phiếu kết quả đăng ký học phần” của học kỳ để đóng học phí. Trên phiếu kết quả đăng ký học phần của mỗi sinh viên có ghi rõ mã số học phần, tên học phần, số tín chỉ, tên lớp-học phần, tên lớp-khóa học, tiết học, số tiền học phí phải nộp.

2. Sinh viên không đăng ký học cho học kỳ kế tiếp phải nộp đơn xin dừng học theo điều 15 của qui định này.

3. Khối lượng học tập tối thiểu mà mỗi sinh viên phải đăng ký trong mỗi học kỳ được quy định như sau:

a. 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ chính, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên được xếp hạng học lực bình thường;

b. 10 tín chỉ cho mỗi học kỳ chính, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu;

c. Trong học kỳ phụ, sinh viên đăng ký học phần theo khả năng của mình và điều kiện mở lớp của nhà trường, nhà trường không quy định khối lượng học tập tối thiểu;

4. Sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu chỉ được đăng ký khối lượng học tập không quá 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ chính và không quá 06 tín chỉ cho học kỳ phụ. Không hạn chế khối lượng đăng ký học tập của những sinh viên xếp hạng học lực bình thường. Trường hợp hạng học lực của sinh viên được xác định vào thời điểm sau khi sinh viên đã đăng ký học phần, sinh viên phải xin rút bớt học phần trong giới hạn khối lượng quy định.

5. Việc đăng ký các học phần sẽ học cho từng học kỳ phải bảo đảm điều kiện tiên quyết của từng học phần và tuân theo trình tự học tập của mỗi chương trình cụ thể.

6. Sinh viên mới trúng tuyển nhập học không phải đăng ký khối lượng học tập cho học kỳ đầu tiên, mà học theo thời khóa biểu do trường xếp cho từng lớp-khóa học.

Điều 11. Rút bớt học phần đã đăng ký

1. Việc rút bớt học phần trong khối lượng học tập đã đăng ký chỉ được chấp nhận sau 6 tuần kể từ đầu học kỳ chính, nhưng không muộn quá 8 tuần; sau 2 tuần kể từ đầu học kỳ phụ, nhưng không muộn quá 4 tuần. Ngoài thời hạn trên học phần vẫn được giữ nguyên trong phiếu đăng ký học và nếu sinh viên không đi học sẽ được xem như tự ý bỏ học và phải nhận điểm F.

2. Điều kiện rút bớt các học phần đã đăng ký:

a. Được giáo viên cố vấn học tập chấp thuận;

b. Sinh viên phải có đơn rút bớt học phần đã đăng ký;

c. Không vi phạm Điều 10.

d. Phòng Quản lý đào tạo kiểm tra và cấp giấy báo chấp thuận giải quyết rút học phần cho sinh viên.

Sinh viên chỉ được phép bỏ lớp đối với học phần xin rút bớt sau khi giảng viên phụ trách học phần nhận giấy báo chấp thuận của Phòng Quản lý đào tạo.

Điều 12. Đăng ký học lại và cải thiện điểm

1. Sinh viên có học phần bắt buộc bị điểm F hoặc F+ phải đăng ký học lại học phần đó trong các học kỳ tiếp theo cho đến khi đạt điểm A, A-, B, B+, C, C+, D, D+.

2. Sinh viên có học phần tự chọn bắt buộc bị điểm F hoặc F+ có thể đăng ký học lại học phần đó hoặc học đổi sang học phần tự chọn bắt buộc khác cùng nhóm để đảm bảo tích lũy đủ số tín chỉ.

3. Sinh viên có học phần tự chọn tùy ý bị điểm F hoặc F+ tùy theo nguyện vọng cá nhân để quyết định việc đăng ký học lại học phần tự chọn này.

4. Ngoài các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 của Điều này, sinh viên được quyền đăng ký học lại hoặc đổi sang học phần khác đối với các học phần bị điểm D hoặc D+ để cải thiện điểm trung bình chung tích lũy. Điểm cải thiện được tính vào điểm trung bình chung học kỳ học cải thiện và tham gia vào tính điểm xét học bổng trong học kỳ đó. Kết quả cao nhất trong các lần học sẽ được chọn để tính vào điểm trung bình chung tích lũy.

Thủ tục đăng ký học lại hoặc đăng ký học cải thiện điểm giống như thủ tục đăng ký học phần lần đầu. Sinh viên có thể đăng ký vào học kỳ mà học phần có mở lớp.

Điều 13. Nghỉ ốm

Sinh viên xin nghỉ ốm trong quá trình học hoặc trong đợt thi, phải viết đơn xin phép gửi khoa đào tạo trong vòng một tuần kể từ ngày ốm, kèm theo giấy chứng nhận của cơ quan y tế trường, hoặc y tế địa phương hoặc của bệnh viện.

Điều 14. Xếp hạng năm đào tạo và học lực

1. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào khối lượng kiến thức tích lũy, sinh viên được xếp hạng năm đào tạo như sau:

a. Sinh viên năm thứ nhất: nếu khối lượng kiến thức tích lũy dưới 30 tín chỉ;

b. Sinh viên năm thứ hai: nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 30 tín chỉ đến dưới 60 tín chỉ;

c. Sinh viên năm thứ ba: nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 60 tín chỉ đến dưới 90 tín chỉ;

d. Sinh viên năm thứ tư: nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 90 tín chỉ trở lên.

2. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào điểm trung bình chung tích lũy, sinh viên được xếp hạng về học lực như sau:

a. Hạng bình thường: nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt từ 2,00 trở lên.

b. Hạng yếu: Nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 2,00 điểm, nhưng chưa rơi vào trường hợp bị buộc thôi học.

3. Kết quả học tập trong học kỳ phụ được gộp vào kết quả học tập trong học kỳ chính ngay trước học kỳ phụ để xếp hạng sinh viên về học lực.

Điều 15. Nghỉ học tạm thời

1. Sinh viên được quyền viết đơn gửi Hiệu trưởng thông qua Phòng Quản lý đào tạo xin nghỉ học tạm thời và bảo lưu kết quả đã học trong các trường hợp sau:

a. Được điều động vào các lực lượng vũ trang;

b. Bị ốm hoặc tai nạn phải điều trị thời gian dài, nhưng phải có giấy xác nhận của cơ quan y tế;

c. Vì nhu cầu cá nhân. Trường hợp này, sinh viên phải học ít nhất một học kỳ ở trường, không rơi vào các trường hợp bị buộc thôi học quy định tại Điều 17 và phải đạt điểm trung bình chung tích lũy không dưới 2,00. Thời gian nghỉ học tạm thời vì nhu cầu cá nhân phải được tính vào thời gian học chính thức quy định tại khoản 1 Điều 6.

2. Sinh viên nghỉ học tạm thời, khi muốn trở lại học tiếp tại trường, phải viết đơn gửi Hiệu trưởng thông qua Phòng Quản lý đào tạo ít nhất một tuần trước khi bắt đầu học kỳ mới.

Điều 16. Cảnh báo tình trạng học kém

1. Giáo viên cố vấn học tập sẽ cảnh báo cho sinh viên có khả năng bị buộc thôi học vì học lực kém. Đây là một biện pháp để nhắc nhở sinh viên về tình trạng học tập của mình. Sinh viên phải lập kế hoạch học tập nhằm cải thiện kết quả học tập của mình dưới sự tư vấn của giáo viên cố vấn học tập.

2. Trách nhiệm của sinh viên phải tự theo dõi kết quả học tập của mình để có kế hoạch học tập tốt. Việc sinh viên không nhận được sự nhắc nhở, cảnh báo nói trên của giáo viên cố vấn học tập không là lý do để sinh viên vi phạm điều khoản bị buộc thôi học.

Điều 17. Bị buộc thôi học

1. Sau mỗi học kỳ, sinh viên bị buộc thôi học nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:

a) Có điểm trung bình chung học kỳ đạt dưới 0,80 đối với học kỳ đầu của khóa học; đạt dưới 1,00 đối với các học kỳ tiếp theo hoặc đạt dưới 1,10 đối với 2 học kỳ liên tiếp;

b) Có điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 1,20 đối với sinh viên năm thứ nhất; dưới 1,40 đối với sinh viên năm thứ hai; dưới 1,60 đối với sinh viên năm thứ ba hoặc dưới 1,80 đối với sinh viên các năm tiếp theo và cuối khoá;

c) Vượt quá thời gian tối đa được phép học tại trường quy định tại khoản 1 Điều 6;

d) Bị kỷ luật lần thứ hai vì lý do đi thi hộ hoặc nhờ người thi hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 31 hoặc bị kỷ luật ở mức xoá tên khỏi danh sách sinh viên của trường.

2. Chậm nhất là một tháng sau khi sinh viên có quyết định buộc thôi học, trường sẽ thông báo trả về địa phương nơi sinh viên có hộ khẩu thường trú. Trường hợp tại trường hoặc tại những trường khác có các chương trình đào tạo ở trình độ thấp hơn hoặc chương trình giáo dục thường xuyên tương ứng, thì những sinh viên thuộc diện bị buộc thôi học quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 của Điều này, được quyền xin xét chuyển qua các chương trình đó và được bảo lưu một phần kết quả học tập ở chương trình cũ khi học ở các chương trình mới này. Hiệu trưởng sẽ xem xét quyết định cho bảo lưu kết quả học tập đối với từng trường hợp cụ thể.

Điều 18. Học cùng lúc hai chương trình

1. Sinh viên học cùng lúc hai chương trình là sinh viên có nhu cầu đăng ký học thêm một chương trình thứ hai để khi tốt nghiệp được cấp hai văn bằng.

2. Điều kiện để học cùng lúc hai chương trình:

a) Ngành đào tạo chính ở chương trình thứ hai phải khác ngành đào tạo chính ở chương trình thứ nhất;

b) Sau khi đã kết thúc học kỳ thứ nhất năm học đầu tiên của chương trình thứ nhất;

c) Sinh viên không thuộc diện xếp hạng học lực yếu ở chương trình thứ nhất;

3. Sinh viên đang học thêm chương trình thứ hai, nếu rơi vào diện bị xếp hạng học lực yếu của chương trình thứ hai, phải dừng học thêm chương trình thứ hai ở học kỳ tiếp theo (trừ trường hợp sinh viên đã tốt nghiệp chương trình thứ nhất).

4. Thời gian tối đa được phép học đối với sinh viên học cùng lúc hai chương trình là thời gian tối đa quy định cho chương trình thứ nhất, quy định tại khoản 1 Điều 6. Khi học chương trình thứ hai, sinh viên được bảo lưu điểm của những học phần có nội dung và khối lượng kiến thức tương đương có trong chương trình thứ nhất.

5. Sinh viên chỉ được xét tốt nghiệp chương trình thứ hai, nếu có đủ điều kiện tốt nghiệp ở chương trình thứ nhất.

6. Thủ tục đăng ký học thêm chương trình thứ hai: sinh viên phải làm đơn xin học thêm chương trình, nộp cho Phòng Quản lý đào tạo để trình Hiệu trưởng quyết định. Thời điểm nộp đơn chậm nhất là 45 ngày trước khi bắt đầu học kỳ mới. Nếu được chấp nhận, sinh viên liên hệ với khoa đào tạo chương trình thứ hai để được xác định các học phần cần học để hoàn thành yêu cầu của chương trình thứ hai và Phòng Quản lý đào tạo bố trí lớp-khóa học của chương trình thứ hai, giúp sinh viên xây dựng kế hoạch học tập của chương trình thứ hai, sinh viên dựa vào đó để đăng ký học phần.

7. Khi học thêm chương trình, các chế độ quyền lợi của sinh viên chỉ được tính đối với chương trình thứ nhất.

Điều 19. Học dự thính

Để tạo điều kiện cho người đang làm việc ở các cơ quan xí nghiệp, các đơn vị kinh tế, hành chính sự nghiệp khác nhau có nhu cầu tiếp cận, trau dồi thêm những kiến thức cần thiết phục vụ cho học tập và phát triển nguồn nhân lực cho xã hội cũng như sinh viên của các cơ sở đào tạo khác, trường cho phép các đối tượng trên được theo học các lớp-học phần với tư cách là học viên dự thính:

a. Học viên muốn học dự thính phải có một trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc tương đương để đảm bảo cho việc học có kết quả. Để thực hiện việc kiểm tra trình độ, Phòng Quản lý đào tạo của trường sẽ yêu cầu học viên dự thính trình các văn bằng, chứng chỉ cần thiết hoặc tổ chức thi kiểm tra. Căn cứ kết quả kiểm tra, Hiệu trưởng ra quyết định tiếp nhận các học viên học dự thính.

b. Học viên dự thính phải thực hiện đầy đủ các quy định về đăng ký học phần và phải đóng đầy đủ các khoản học phí, lệ phí theo quy định của trường như sinh viên hệ chính quy, chỉ được cấp chứng chỉ về các học phần theo học nếu thực hiện đủ các quy định về đào tạo của trường. Không được công nhận là sinh viên chính thức của trường mà được gọi là học viên dự thính. Học viên dự thính không được làm khóa luận tốt nghiệp.

c. Chứng chỉ về các học phần theo học có ghi rõ kết quả học tập của học viên, thời gian học tập, bậc đào tạo tham gia học. Nếu sau này, học viên dự thính được công nhận là sinh viên chính thức của trường thì các chứng chỉ về các học phần này sẽ được tham gia vào xét miễn học hoặc miễn thi (xem thêm điều 25 của qui định này).

d. Học viên dự thính không được tham gia xét học bổng, các chế độ chính sách ưu tiên khác, học viên có thể tham vấn Phòng Công tác sinh viên để được tham gia tùy theo các hoạt động phong trào của trường ...

Điều 20. Chuyển trường

1. Sinh viên được xét chuyển trường nếu có các điều kiện sau đây:

a) Trong thời gian học tập, nếu gia đình chuyển nơi cư trú hoặc sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, cần thiết phải chuyển đến trường gần nơi cư trú của gia đình để thuận lợi trong học tập;

b) Xin chuyển đến trường có cùng ngành hoặc thuộc cùng nhóm ngành với ngành đào tạo mà sinh viên đang học;

c) Được sự đồng ý của Hiệu trưởng trường xin chuyển đi và trường xin chuyển đến;

d) Không thuộc một trong các trường hợp không được phép chuyển trường quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Sinh viên không được phép chuyển trường trong các trường hợp sau:

a) Sinh viên đã tham dự kỳ thi tuyển sinh theo đề thi chung, nhưng không trúng tuyển vào trường hoặc có kết quả thi thấp hơn điểm trúng tuyển của trường xin chuyển đến;

b) Sinh viên thuộc diện nằm ngoài vùng tuyển quy định của trường xin chuyển đến;

c) Sinh viên năm thứ nhất và năm cuối khóa;

d) Sinh viên đang trong thời gian bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên.

3. Thủ tục chuyển trường:

a) Sinh viên xin chuyển trường phải làm hồ sơ xin chuyển trường theo quy định của nhà trường;

b) Hiệu trưởng trường có sinh viên xin chuyển đến quyết định tiếp nhận hoặc không tiếp nhận; quyết định việc học tập tiếp tục của sinh viên, công nhận các học phần mà sinh viên chuyển đến được chuyển đổi kết quả và số học phần phải học bổ sung, trên cơ sở so sánh chương trình ở trường sinh viên xin chuyển đi và trường xin chuyển đến.

CHƯƠNG III

KIỂM TRA VÀ THI HỌC PHẦN

Điều 21. Đánh giá học phần

1. Đối với các học phần chỉ có lý thuyết hoặc kết hợp lý thuyết với thực hành: Tùy theo tính chất của học phần, điểm tổng hợp đánh giá học phần (sau đây gọi tắt là điểm học phần) được tính căn cứ vào một phần hoặc tất cả các điểm đánh giá bộ phận, bao gồm: điểm kiểm tra thường xuyên trong quá trình học tập; điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận; điểm đánh giá phần thực hành; điểm chuyên cần; điểm thi giữa học phần; điểm tiểu luận và điểm thi kết thúc học phần, trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp và có trọng số 70% đối với các học phần chỉ có lý thuyết, 60% đối với các học phần kết hợp lý thuyết với thực hành. Trường hợp đặc biệt do Hiệu trưởng quyết định.

Việc lựa chọn các hình thức đánh giá quá trình và trọng số của các điểm đánh giá quá trình, cũng như cách tính điểm tổng hợp đánh giá học phần do giảng viên đề xuất, được Hiệu trưởng phê duyệt và được quy định trong đề cương chi tiết của học phần.

Giảng viên có thể sử dụng nhiều hình thức đánh giá quá trình, tuy nhiên khi gửi bảng điểm về cho khoa chuyên môn và Phòng Khảo thí – Quản lý chất lượng điểm đánh giá quá trình phải được quy đổi về 1 cột điểm. Giảng viên công bố cho sinh viên điểm đánh giá quá trình trên lớp trước buổi học cuối cùng 1 tuần để sinh viên biết và thắc mắc (nếu có). Kết thúc thời hạn công bố điểm trên lớp 1 tuần, giảng viên nộp bảng điểm quá trình về văn phòng khoa chuyên môn vào buổi học cuối cùng.

2. Đối với các học phần thực hành: Sinh viên phải tham dự đầy đủ các bài thực hành. Điểm trung bình cộng có trọng số của điểm các bài thực hành trong học kỳ được làm tròn đến một chữ số thập phân là điểm của học phần thực hành; được qui định trong đề cương chi tiết học phần.

3. Giảng viên phụ trách học phần trực tiếp ra đề thi, đề kiểm tra và cho điểm đánh giá quá trình. Việc ra đề thi kết thúc học phần do giảng viên phụ trách học phần thực hiện hoặc được lấy từ ngân hàng đề thi hoặc theo sự phân công của Khoa/Bộ môn.

Điều 22. Tổ chức kỳ thi kết thúc học phần

1. Cuối mỗi học kỳ, trường tổ chức một kỳ thi để thi kết thúc học phần. Sinh viên có kết quả học phần không đạt phải đăng ký học lại ở các học kỳ tiếp sau.

2. Thời gian dành cho ôn thi mỗi học phần tỷ lệ thuận với số tín chỉ của học phần đó và bằng ít nhất là 2/3 ngày cho một tín chỉ.

Lịch thi sẽ được công bố tại bảng thông báo của khoa và trên website trường ít nhất 04 tuần trước khi thi đối với học kỳ chính, 3 tuần đối với học kỳ phụ. Phòng Khảo thí – Quản lý chất lượng chịu trách nhiệm lập lịch thi cho tất cả các môn thi có trong học kỳ.

Điều 23. Ra đề thi, hình thức thi, chấm thi và số lần được dự thi kết thúc học phần

1. Đề thi phải phù hợp với nội dung học phần đã quy định trong chương trình. Việc ra đề thi do giảng viên phụ trách học phần thực hiện hoặc lấy từ ngân hàng đề thi hoặc theo sự phân công của Khoa/Bộ môn quản lý học phần. Đề thi được lưu giữ theo quy định bảo mật và phải được Trưởng bộ môn ký duyệt.

2. Hình thức thi kết thúc học phần có thể là thi viết (trắc nghiệm hoặc tự luận), trắc nghiệm trên máy tính, vấn đáp, viết tiểu luận, làm bài tập lớn hoặc kết hợp giữa các hình thức trên. Hình thức thi được thể hiện trong đề cương chi tiết học phần và phải được công bố cho sinh viên biết từ đầu học kỳ.

3. Việc chấm thi kết thúc các học phần chỉ có lý thuyết và việc chấm tiểu luận, bài tập lớn phải do hai giảng viên đảm nhiệm. Thời gian lưu giữ các bài thi viết, tiểu luận, bài tập lớn ít nhất là hai năm, kể từ ngày thi hoặc ngày nộp tiểu luận, bài tập lớn.

4. Thi vấn đáp kết thúc học phần phải do hai giảng viên thực hiện. Điểm thi vấn đáp được công bố công khai sau mỗi buổi thi. Trong trường hợp hai giảng viên chấm thi không thống nhất được điểm chấm thì các giảng viên chấm thi trình trưởng bộ môn hoặc trưởng khoa chuyên môn quyết định.

Các điểm thi kết thúc học phần và điểm học phần được ghi vào bảng điểm theo mẫu thống nhất của trường, có chữ ký của cả hai giảng viên chấm thi và làm thành ba bản. Một bản lưu tại bộ môn, một bản gửi về văn phòng khoa chuyên môn và một bản gửi về Phòng Khảo thí – Quản lý chất lượng chậm nhất một tuần sau khi kết thúc chấm thi học phần.

5. Sinh viên vắng mặt trong kỳ thi kết thúc học phần, nếu không có lý do chính đáng coi như đã dự thi một lần và phải nhận điểm 0 (không).

6. Sinh viên vắng mặt có lý do chính đáng ở kỳ thi kết thúc học phần, nếu được khoa chuyên môn cho phép, được dự thi ở kỳ thi phụ ngay sau đó (nếu có), điểm thi kết thúc học phần được coi là điểm thi lần đầu. Trường hợp không có kỳ thi phụ, những sinh viên này sẽ phải dự thi tại các kỳ thi kết thúc học phần ở các học kỳ sau hoặc học kỳ phụ (xem thêm khoản 5 điều 25).

Điều 24. Phúc tra và khiếu nại điểm

1. Sinh viên có quyền khiếu nại về điểm đánh giá quá trình trực tiếp với giảng viên phụ trách học phần trong vòng 1 tuần kể từ ngày thông báo điểm quá trình trên lớp. Sau khi bảng điểm này đã được nộp cho trường, sinh viên không còn quyền khiếu nại về cột điểm quá trình nữa.

2. Để phúc tra điểm kết thúc học phần, sinh viên nộp đơn yêu cầu cho khoa chuyên môn trong vòng 7 ngày làm việc kể từ ngày công bố kết quả. Tất cả các đề nghị chấm phúc tra đều phải nộp lệ phí do trường quy định. Việc tổ chức chấm phúc tra bài thi được thực hiện theo quy trình hiện hành của trường.

3. Khi phát hiện có bất cứ sự khác biệt nào giữa bảng ghi điểm đã công bố và điểm được nhập, lưu trữ trong hệ thống quản lý, sinh viên có trách nhiệm thông báo và yêu cầu Phòng Khảo thí – Quản lý chất lượng kiểm tra lại các cột điểm tương ứng.

Điều 25. Cách tính điểm đánh giá bộ phận, điểm học phần

1. Điểm đánh giá quá trình và điểm thi kết thúc học phần được chấm theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến phần nguyên.

2. Điểm học phần là tổng điểm của tất cả các điểm đánh giá bộ phận của học phần nhân với trọng số tương ứng. Điểm học phần làm tròn đến một chữ số thập phân, sau đó được chuyển thành thang điểm chữ như sau:

a. Loại đạt (được tích lũy):

Thang điểm 10

Thang điểm chữ

Xếp loại

9,0 à 10

A

Giỏi

8,5 à 8,9

A-

8,0 à 8,4

B+

Khá

7,0 à 7,9

B

6,0 à 6,9

C+

Trung bình

5,5 à 5,9

C

5,0 à 5,4

D+

Trung bình yếu

4,0 à 4,9

D

b. Loại không đạt:

Thang điểm 10

Thang điểm chữ

Xếp loại

3,0 à 3,9

F+

Kém

0,0 à 2,9

F

c. Đối với những học phần chưa đủ cơ sở để đưa vào tính điểm trung bình chung học kỳ, khi xếp mức đánh giá được sử dụng các kí hiệu sau:

I            Chưa đủ dữ liệu đánh giá.

X           Chưa nhận được kết quả thi.

d. Đối với những học phần được nhà trường cho phép chuyển điểm, khi xếp mức đánh giá được sử dụng kí hiệu R viết kèm với kết quả.

3. Việc xếp loại các mức điểm A, A-, B+, B, C+, C, D+, D, F+, F được áp dụng cho các trường hợp sau đây:

a) Đối với những học phần mà sinh viên đã có đủ điểm đánh giá bộ phận, kể cả trường hợp bỏ học, bỏ kiểm tra hoặc bỏ thi không có lý do phải nhận điểm 0;

b) Chuyển đổi từ mức điểm I qua, sau khi đã có các kết quả đánh giá bộ phận mà trước đó sinh viên được giảng viên cho phép nợ;

c) Chuyển đổi từ các trường hợp X qua.

4. Việc xếp loại ở mức điểm F ngoài những trường hợp như đã nêu ở khoản 3 Điều này, còn áp dụng cho trường hợp sinh viên vi phạm nội quy thi, có quyết định phải nhận mức điểm F.

5. Việc xếp loại theo mức điểm I được áp dụng cho các trường hợp sau đây:

a) Trong thời gian học hoặc trong thời gian thi kết thúc học kỳ, sinh viên bị ốm đau hoặc tai nạn đột xuất không thể dự kiểm tra hoặc thi; sinh viên phải nộp đơn hoặc nhờ người nộp đơn xin điểm I ngay tại khoa đào tạo kèm theo các hồ sơ chứng cứ liên quan. Các đơn nộp trễ quá 05 ngày làm việc tính từ ngày đã nghỉ sẽ không được xem xét giải quyết điểm I;

b) Sinh viên không thể dự kiểm tra bộ phận hoặc thi do được trường điều động tham gia các hoạt động xã hội, thi olympic, các hoạt động đoàn thể, xã hội khác, ... Sinh viên phải làm đơn đề nghị được nhận điểm I ngay khi sự việc phát sinh kèm theo các xác nhận cần thiết và nộp cho khoa đào tạo không trễ hơn ngày xin được vắng thi, kiểm tra.

Trong thời hạn 01 năm học kế tiếp, sinh viên có quyết định điểm I phải theo dõi lịch học, lịch thi để đăng ký xóa điểm I. Sau thời hạn 01 năm học, nếu sinh viên vẫn chưa có điểm đánh giá học phần, điểm I tự động được chuyển thành điểm F.

6. Việc xếp loại theo mức điểm X được áp dụng đối với những học phần mà Phòng Khảo thí – Quản lý chất lượng chưa nhận được kết quả học tập của sinh viên từ khoa chuyên môn chuyển đến.

7. Điểm R (miễn học do bảo lưu hoặc chuyển điểm):

Ký hiệu R kèm theo kết quả học tập được ghi đối với những học phần được công nhận kết quả, khi sinh viên chuyển từ trường khác đến hoặc chuyển đổi giữa các chương trình.

Sinh viên đã thi đạt yêu cầu một học phần ở một trường đại học, cao đẳng nào đó trong thời gian không quá 5 năm, nếu muốn xin miễn học học phần đó, cần phải làm đơn kèm theo bảng điểm hợp lệ gửi về Phòng Khảo thí – Quản lý chất lượng cùng thời điểm đăng ký học phần đó. Nếu được chấp thuận thì học phần đó sẽ được ghi điểm mà sinh viên đã đạt và kèm theo chữ R.

Trong trường hợp sinh viên đã đạt được kết quả cho một học phần nào đó ở cơ sở đào tạo khác mà điểm cụ thể không tương thích với hệ điểm của trường, sinh viên phải làm đơn kèm xác nhận của cơ sở đào tạo đó gửi về Phòng Khảo thí – Quản lý chất lượng để xem xét. Phòng Khảo thí – Quản lý chất lượng sẽ quy định điểm tương đương bằng số và kèm ký hiệu R. Nếu muốn nhận điểm cao hơn điểm tương đương nói trên, sinh viên phải đăng ký học học phần đó.

Điểm R không được tính vào điểm trung bình chung học kỳ, không tính vào xét học bổng nhưng được tính vào điểm trung bình chung tích lũy.

8. Điểm M (miễn thi): là một hình thức thưởng điểm cho những sinh viên đã đăng ký học phần và đã hoàn thành xuất sắc các phần yêu cầu bắt buộc của học phần (hoàn thành xuất sắc tiểu luận hay có báo cáo chuyên sâu về học phần) hoặc vào vòng chung kết trong các kỳ thi cấp quốc tế hoặc cấp quốc gia với nội dung của các kỳ thi này phù hợp, liên quan với học phần được xem xét miễn thi. Điểm ghi cho sinh viên do cán bộ giảng dạy đề nghị, khoa chuyên môn duyệt và được tính là điểm toàn bộ học phần, theo quy định: đoạt giải cấp quốc tế được 10 điểm, đoạt giải các cấp khác được 9 điểm.

Điểm M được tính vào điểm trung bình chung học kỳ, xét học bổng và điểm trung bình chung tích lũy.

Ý nghĩa

Ký hiệu điểm

Nội dung

Vắng thi có phép, còn thiếu điểm bộ phận vì lý do chính đáng

I

Ghi chú tm trong bng đim, điểm chưa hoàn tất, chưa tích lũy. Điểm chính thức phải đầy đủ trong vòng tối đa 1 năm học kế tiếp, tính vào ĐTBCHK và ĐTBCTL tại thời điểm có điểm chính thức

Chưa nhận được kết quả thi

X

Ghi chú tạm, chưa tích lũy

Miễn thi (điểm thưởng)

M

Ghi chú tm trong bng đim, đim min (thang điểm 10) s do Khoa chuyên môn duyệt, tính ĐTBCHK và ĐTBCTL

Miễn học (do bảo lưu hoặc chuyển điểm)

R

(viết kèm kết quả)

nh vào ĐTBCTL, không tính vào ĐTBCHK

Điều 26. Cách tính điểm trung bình chung

1. Để tính điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy, mức điểm chữ của mỗi học phần được quy đổi qua điểm số (thang điểm 4) như sau:

Thang điểm chữ

Thang điểm 4

A

4,0

A-

3,7

B+

3,5

B

3,0

C+

2,5

C

2,0

D+

1,5

D

1,0

F+

0,5

F

0,0

2. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy được tính theo công thức sau và được làm tròn đến 2 chữ số thập phân:

http://pdt.ufm.edu.vn/dulieu/quiche/quy_che_dao_tao_tin_chi_ufm_2012_files/image002.gif

Trong đó:

A là điểm trung bình chung học kỳ hoặc điểm trung bình chung tích lũy

ai là điểm của học phần thứ i

ni là số tín chỉ của học phần thứ i

n là tổng số học phần.

Điểm trung bình chung học kỳ để căn cứ xét học bổng, khen thưởng sau mỗi học kỳ chỉ tính theo kết quả thi kết thúc học phần ở lần thi thứ nhất. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy để xét thôi học, xếp hạng học lực sinh viên và xếp hạng tốt nghiệp được tính theo điểm thi kết thúc học phần cao nhất trong các lần thi.

CHƯƠNG IV

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

Nghiên cứu khoa học của sinh viên là hoạt động quan trọng, cần thiết trong quá trình đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bao gồm các hình thức sau đây:

- Tham gia câu lạc bộ khoa học sinh viên, seminar chuyên đề khoa học, báo cáo khoa học tại hội nghị, hội thảo khoa học; công bố các bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành.

- Tham gia khảo sát thực tế, thực nghiệm khoa học, thực hiện đề tài nghiên cứu, triển khai ứng dụng các tiến bộ khoa học vào thực tiễn.

Những công trình nghiên cứu khoa học sinh viên đạt giải được cộng điểm thưởng vào điểm trung bình chung học tập mở rộng của học kỳ và của toàn khóa học để làm căn cứ xét khen thưởng và các quyền lợi khác.

Nhà trường tổ chức và quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên bằng qui định riêng, sinh viên cần nghiên cứu qui định này để thực hiện công tác nghiên cứu khoa học của mình.

CHƯƠNG V

XÉT VÀ CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP

Điều 27. Khóa luận tốt nghiệp

1. Đầu học kỳ chính cuối khóa, sinh viên được đăng ký làm khóa luận tốt nghiệp. Đây là học phần áp dụng bắt buộc cho tất cả sinh viên; được tính 05 tín chỉ đối với bậc cao đẳng, 08 tín chỉ đối với bậc đại học.

2. Điều kiện để đăng ký làm khóa luận tốt nghiệp: sinh viên phải đạt tất cả các học phần thuộc phần kiến thức ngành và kiến thức chuyên ngành theo chương trình giáo dục.

Trước khi triển khai làm khóa luận tốt nghiệp, sinh viên sẽ được khoa đào tạo phổ biến kế hoạch và qui định về làm khóa luận tốt nghiệp.

Điều 28. Chấm khóa luận tốt nghiệp

1. Việc chấm mỗi khóa luận tốt nghiệp do khoa đào tạo phân công 2 giảng viên đảm nhiệm.

2. Từng giảng viên chấm khóa luận tốt nghiệp theo thang điểm 10, làm tròn đến phần nguyên. Điểm đánh giá khóa luận tốt nghiệp là điểm trung bình cộng các điểm của từng giảng viên chấm và có xét đến quá trình làm khóa luận tốt nghiệp của sinh viên, làm tròn đến 1 chữ số thập phân, sau đó được máy tính chuyển thành điểm chữ theo quy định tại khoản 2 Điều 25. Kết quả chấm khóa luận tốt nghiệp được công bố chậm nhất là 3 tuần kể từ ngày sinh viên nộp khóa luận tốt nghiệp.

Điểm khóa luận tốt nghiệp được tính vào điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học.

3. Sinh viên có khóa luận tốt nghiệp bị điểm D, F+, F phải đăng ký làm lại ở các học kỳ tiếp sau.

Điều 29. Điều kiện xét tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp

1. Những sinh viên có đủ các điều kiện sau thì được trường xét và công nhận tốt nghiệp:

a. Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không đang trong thời gian bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập;

b. Tích lũy đủ số học phần, số tín chỉ quy định cho chương trình giáo dục (tại điều 2);

c. Điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học đạt từ 2,00 trở lên;

d. Thỏa mãn một số yêu cầu về chuẩn đầu ra, điều kiện tốt nghiệp đối với chuyên ngành học do Hiệu trưởng quy định;

e. Có chứng chỉ hoặc có điểm đạt đối với các học phần Giáo dục quốc phòng – An ninh và Giáo dục thể chất.

2. Sau mỗi học kỳ chính, Hội đồng xét tốt nghiệp căn cứ các điều kiện công nhận tốt nghiệp quy định tại khoản 1 điều này để lập danh sách những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp. Hội đồng xét tốt nghiệp trường do Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng được Hiệu trưởng uỷ quyền làm Chủ tịch, Trưởng Phòng Quản lý đào tạo làm Thư ký và các thành viên là các trưởng khoa đào tạo, Trưởng Phòng Công tác sinh viên và các đơn vị có liên quan.

3. Căn cứ đề nghị của Hội đồng xét tốt nghiệp, Hiệu trưởng ký quyết định công nhận tốt nghiệp cho những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.

Điều 30. Cấp bằng tốt nghiệp, bảo lưu kết quả học tập, chuyển chương trình đào tạo và chuyển loại hình đào tạo

1. Bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng được cấp theo ngành đào tạo chính (đơn ngành hoặc song ngành). Hạng tốt nghiệp được xác định theo điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học, như sau:

a) Loại xuất sắc:         Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,60 đến 4,00;

b) Loại giỏi:                Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,20 đến 3,59;

c) Loại khá:                 Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,50 đến 3,19;

d) Loại trung bình:     Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,00 đến 2,49.

2. Hạng tốt nghiệp của những sinh viên có kết quả học tập toàn khóa loại Xuất sắc và Giỏi sẽ bị giảm đi một mức, nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:

a. Có khối lượng tín chỉ của các học phần phải học lại vượt quá 5% so với tổng số tín chỉ quy định cho toàn chương trình;

b. Đã bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên trong thời gian học.

3. Bằng tốt nghiệp chỉ cấp một lần. Trường hợp bằng tốt nghiệp bị mất hoặc bị hỏng, sinh viên có thể nộp đơn và giấy tờ chứng cớ kèm theo cho Phòng Quản lý đào tạo để đề nghị cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp.

4. Kết quả học tập của sinh viên được ghi vào bảng điểm theo từng học phần. Trong bảng điểm còn ghi tên chuyên ngành (hướng chuyên sâu) hoặc ngành phụ (nếu có).

5. Nếu kết quả học tập của sinh viên thỏa mãn những quy định tại khoản 1 điều 29 của qui định này đối với một số chương trình đào tạo tương ứng với các ngành đào tạo khác nhau, thì sinh viên được cấp các bằng tốt nghiệp khác nhau tương ứng với các ngành đào tạo đó.

6. Sinh viên còn nợ chứng chỉ Giáo dục quốc phòng – An ninh và Giáo dục thể chất, nhưng đã hết thời gian tối đa được phép học, trong thời hạn 5 năm tính từ ngày phải ngừng học, được trở về trường trả nợ để có đủ điều kiện xét tốt nghiệp.

7. Sinh viên không tốt nghiệp được cấp giấy chứng nhận về các học phần đã học trong chương trình của trường. Những sinh viên này nếu có nguyện vọng, được quyền làm đơn xin chuyển qua các chương trình khác theo quy định tại khoản 2 điều 17.

CHƯƠNG VI

XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 31. Xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm các quy định về thi, kiểm tra

1. Trong khi dự kiểm tra thường xuyên, chuẩn bị tiểu luận, bài tập lớn, thi giữa học phần, thi kết thúc học phần, chuẩn bị khóa luận tốt nghiệp, nếu vi phạm quy chế, sinh viên sẽ bị xử lý kỷ luật với từng học phần đã vi phạm.

2. Sinh viên đi thi hộ hoặc nhờ người khác thi hộ, đều bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập một năm đối với trường hợp vi phạm lần thứ nhất và buộc thôi học đối với trường hợp vi phạm lần thứ hai.

3. Trừ trường hợp như quy định tại khoản 2 của điều này, mức độ sai phạm và khung xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm được thực hiện theo các quy định của Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy và các quy định khác hiện hành của trường./.

HIỆU TRƯỞNG

Normal 0 false false false false EN-US X-NONE X-NONE MicrosoftInternetExplorer4


 

Liên kết

Liên kết tiện ích